http://baigiangtinlanh.com
Kinh Thánh hằng ngày – Lời sống hằng ngày – Ngày 31 tháng 12 năm 2018 - Sứ giả

Chia sẻ

Sứ Giả

Nầy, Ta sai sứ giả của Ta đến để dọn đường trước mặt Ta. Ma-la-chi 3:1

“Tôi có một tin nhắn cho chị!” Người phụ nữ làm việc tại hội nghị mà tôi đang tham dự trao cho tôi một tờ giấy, và tôi tự hỏi mình nên lo lắng hay hào hứng. Nhưng khi đọc: “Chị có một cháu trai!” thì tôi biết mình có thể vui mừng.

Thông điệp có thể đem lại tin tốt, tin xấu, hay những lời thách thức. Trong Cựu Ước, Chúa đã dùng các tiên tri của Ngài để truyền đạt những sứ điệp về niềm hy vọng hay sự đoán phạt. Nhưng nếu nhìn kỹ, chúng ta thấy rằng ngay cả khi là lời đoán phạt thì Chúa cũng nhằm mục đích đưa họ đến chỗ ăn năn, chữa lành và phục hồi.

Có cả hai loại sứ điệp xuất hiện trong Ma-la-chi 3 khi Chúa hứa sai một sứ giả đến để dọn đường cho Ngài. Giăng Báp-tít đã công bố về sự đến của Chúa Jêsus, là Sứ Giả thật (xem Mat. 3:11) – “sứ giả của giao ước” (Mal. 3:1) là Đấng sẽ làm thành những lời hứa của Chúa. Nhưng Ngài sẽ như “thợ luyện kim” hay người “thợ giặt” (c.2), vì Ngài sẽ thanh tẩy những ai tin lời Ngài. Chúa đã ban lời Ngài để thanh tẩy con dân Ngài vì Ngài yêu thương và quan tâm đến sự thịnh vượng của họ.

Sứ điệp của Chúa là sứ điệp của tình yêu, hy vọng và sự tự do. Ngài đã sai Con Ngài đến để làm sứ giả nói bằng ngôn ngữ của chúng ta – dù đôi khi là những sứ điệp sửa trị, nhưng luôn có hy vọng. Chúng ta hãy tin sứ điệp của Ngài.Lạy Chúa Jêsus Christ, xin giúp con không chỉ hiểu được sứ điệp của Ngài mà còn sống theo sứ điệp đó. Hãy cầu xin Chúa giúp bạn chia sẻ tin lành của Ngài với người khác trong năm mới này.bởi Amy Boucher Pye | Xem tác giả khác

CHÚ GIẢI

Ma-la-chi là sách cuối cùng của Cựu Ước, được viết bởi một người mà tên của ông có nghĩa là “sứ giả ta.” Người ta tin rằng Ma-la-chi sống cùng thời với E-xơ-ra và Nê-hê-mi, ông thi hành chức vụ cho người Giu-đa trở về từ cuộc lưu đày ở Ba-by-lôn. Mặc dù đền thờ đã được xây dựng lại (Ex. 6:14-15) nhưng sự thờ phượng và việc dâng tế lễ bị ô uế vì nhiều lý do: thiếu lòng tôn kính Chúa, dâng những sinh tế khuyết tật (Mal. 1:6-9, 12-14), và cố ý sao lãng việc dâng phần mười (3:8-9). Điều tệ hơn là các thầy tế lễ cũng bị ô uế vì kết hôn với người ngoại bang và không chung thuỷ trong hôn nhân (2:1-16). Vì chức tế lễ với vai trò là “sứ giả của Chúa” đã bị thất bại trong chức năng tế lễ của họ (2:7-9), nên Ma-la-chi nói về “sứ giả” tương lai, là người sẽ dọn đường cho “sứ giả của giao ước” (3:1). Bốn trăm năm sau đó, Chúa Jêsus xác nhận Giăng Báp-tít là sứ giả đó (Mat. 11:9-10; 17:12-13).

K. T. Sim